LUẬT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP:  MỘT SỐ Ư KIẾN ĐÓNG GÓP
BỔ SUNG, SỬA ĐỔI

Trần Anh Tú

Khoa Lut, Đại hc Quc gia Hà Ni

 

Luật phá sản doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 30.12.1993 và có hiệu lực từ ngày 01.07.1994. Tuy nhiên, Luật này chỉ bắt đầu đi vào hoạt động kể từ ngày 23.12.1994 khi Chính phủ ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định 189/CP). Mặc dù pháp luật về thanh lư tư pháp và khánh tận đă được du nhập từ thời kỳ thuộc Pháp, song về cơ bản Việt Nam có rất ít kiến thức và  kinh nghiệm về lĩnh vực này. Thêm nữa, vào thời điểm bắt đầu soạn thảo Luật phá sản, Việt Nam đang ở giai đoạn đầu của quá tŕnh đổi mới, một chính sách kinh tế được thiết lập để thực hiện việc chuyển đổi từ một nền kinh tế “mệnh lệnh” khép kín sang một nền kinh tế mở - kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Khu vực Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng chú ư đặc biệt trong chính sách đổi mới đó và dường như Luật phá sản doanh nghiệp được thiết kế phản ánh tập trung vào khu vực DNNN - như là một bộ phận của cải tổ thương mại và kinh tế nói chung. Một điều đáng nói nữa là những nguyên tắc, chính sách cơ bản của Luật PSDN năm 1993 chủ yếu phản ánh những ư tưởng và chính sách kinh tế mà phần lớn được du nhập từ kinh nghiệm của những nền kinh tế không phải là kinh tế thị trường.

Do những hạn chế cả về chủ quan và khách quan như đă kể trên trong quá tŕnh ban hành, cho tới nay, sau hơn 8 năm thi hành, Luật PSDN 1993 đă bộc lộ rất nhiều những hạn chế. Một số khái niệm không chính xác, khó hiểu, gây khó khăn cho việc áp dụng: thủ tục mang nặng tính hành chính, phức tạp, tốn kém và không hiệu quả. Cho đến nay, thực tiễn pháp lư và thực tiễn kinh doanh đang đ̣i hỏi Luật PSDN 1993 phải được sửa đổi, bổ sung bằng một luật mới hiện đại và phù hợp hơn.

Bài viết dưới đây tập trung phân tích một số điểm cho rơ ràng trong pháp luật phá sản doanh nghiệp và kiến nghị một số biện pháp hoàn thiện thủ tục phá sản doanh nghiệp.

1. Làm rơ khái niệm phá sản

LPSDN (1993) bên cạnh việc đưa ra dấu hiệu mất khả năng thanh toán nợ đến hạn c̣n đưa thêm dấu hiệu về nguyên nhân của việc mất khả năng thanh toán và hành động của doanh nghiệp khi bị mất khả năng thanh toán làm cơ sở cho việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.

Theo quy định tại Điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam (1993) th́ doanh nghiệp bị lâm vào t́nh trạng phá sản phải thoả măn đủ 3 dấu hiệu sau:

- Thứ nhất: Doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Thứ hai: Doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn.

- Thứ ba: Doanh nghiệp đă áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục việc mất khả năng thanh toán nhưng không khắc phục được.

Quy định này cho thấy việc mất khả năng thanh toán nợ đến hạn là do doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong kinh doanh một cách trầm trọng và đă áp dụng các biện pháp tài chính để khắc phục, nhưng không đạt kết quả, chứ không phải do một nguyên nhân nào khác. Về mặt pháp lư, con nợ chỉ bị xem là phá sản khi có quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền. T́nh trạng mất khả năng thanh toán chỉ là t́nh trạng báo động rằng con nợ đang đứng trước nguy cơ bị tuyên bố phá sản. Sẽ không có một con nợ nào bị phá sản khi chưa có yêu cầu tuyên bố phá sản của chủ nợ hoặc chính con nợ hay Toà án chưa chủ động mở thủ tục giải quyết tuyên bố phá sản (trong trường hợp giải thể cưỡng bức mà không cần có đơn yêu cầu của chủ thể có quyền yêu cầu như ở Pháp chẳng hạn). Quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền là cơ sở pháp lư xác định tính hợp pháp của một cái chết đă được dự báo khi chưa có quyết định tuyên bố phá sản của cơ quan có thẩm quyền th́ dù con nợ có chấm dứt hoạt động kinh doanh cũng chỉ là “một cái xác chết chưa được chôn”.

Như vậy về mặt pháp lư, nếu dùng khái niệm doanh nghiệp lâm vào t́nh trạng phá sản để chỉ t́nh trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn một cách thực sự trầm trọng đang đứng bên bờ vực phá sản, làm cơ sở để ra quyết định tuyên bố phá sản là chưa hợp lư. Chủ thể "lâm vào t́nh trạng nào đó" được hiểu là chủ thể "đă" ở vào một hoàn cảnh nào đấy. Vậy doanh nghiệp lâm vào t́nh trạng phá sản là doanh nghiệp đă ở vào hoàn cảnh phá sản. Nhưng phá sản chỉ xảy ra sau khi có quyết định tuyên bố phá sản c̣n việc doanh nghiệp lâm vào t́nh trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn một cách trầm trọng th́ xảy ra trước quyết định tuyên bố phá sản. Chính v́ thế nên sửa đổi tên khái niệm trên cho phù hợp.

2. Cơ sở cho việc áp dụng Luật phá sản doanh nghiệp

Khái niệm “phá sản” hay “vỡ nợ” (Banquerote) không dễ chuyển thể sang tiếng Việt. Ngôn ngữ chuyển thể sát nhất là khái niệm “lỗ nghiêm trọng” hoặc “thiệt hại nghiêm trọng”, khái niệm mà khi được áp dụng cho doanh nghiệp, chỉ ra một tiêu chí dựa vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Điều 2 của Luật phá sản doanh nghiệp ghi nhận “Doanh nghiệp vỡ nợ là những doanh nghiệpkinh doanh thua lỗ”, tương tự như vậy trong Điều 3.1. của Nghị định số 189/CP cũng nêu rơ “Một doanh nghiệp được xem là có dấu hiệu rơi vào t́nh trạng phá sản như được định nghĩa trong Điều 2 của Luật phá sản khi doanh nghiệp thua lỗ trong 2 năm liên tiếp ”. Như vậy, tiêu chí về kết quả kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp được coi là tiêu chí quan trọng đầu tiên để xem xét việc áp dụng theo thủ tục tố tụng phá sản.

Tuy nhiên, theo Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, th́ ngoài tiêu chí đầu tiên như trên, để có thể áp dụng thủ tục phá sản đối với một doanh nghiệp nào đó c̣n cần đến một tiêu chí thứ nữa đó là “Doanh nghiệp đă áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục việc mất khả năng thanh toán nhưng không khắc phục được”. Việc đưa thêm tiêu chí này (thực chất là đưa h́nh thức của t́nh trạng kinh tế) vào luật đă làm mất đi tính hiện đại của đạo luật và làm cho nó trở nên “phi kinh tế” hơn. Khi mà hai khái niệm: “lỗ nghiêm trọng” và “đă thực hiện những biện pháp tài chính cần thiết” (hoặc đă và đang) là thích hợp áp dụng cho việc cải tổ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đang hội nhập vào một nền kinh tế thị trường, chúng không có bất kỳ một vị trí thực tiễn nào trong luật phá sản hiện đại và tổng hợp. Việc áp dụng hai khái niệm này, kết hợp với nhau, đă làm tổn hại đến việc áp dụng một tiêu chí bắt đầu [vụ kiện phá sản] dựa trên cơ sở thương mại rất đơn giản là tiêu chuẩn về ḍng tiền mặt (lỗi không thanh toán nợ đến hạn) hoặc là bản cân đối tài chính (tổng nghĩa vụ vượt quá giá trị tài sản). Theo chúng tôi, để luật phá sản trở nên phù hợp và thực tế hơn th́ có lẽ đây là lĩnh vực mà luật cần phải sửa đổi nhất. Nên chăng, chúng ta thiết lập một căn cứ duy nhất vừa dễ tiếp cận đối với con nợ đồng thời vừa đơn giản đối với các chủ nợ đó là lỗi không thanh toán được nợ đến hạn và trong trường hợp này th́ chứng cứ chính là bảng cân đối tài chính của doanh nghiệp.

3. Sự xung đột với chế định giao dịch có bảo đảm

Tài sản phá sản là tài sản của con nợ sau khi có quyết định tuyên bố phá sản hay nói cách khác nó là tài sản của chủ thể phá sản. Nó có thể chứa tài sản bảo đảm hoặc không chứa tài sản bảo đảm.

Trong Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993, không có khái niệm "Tài sản phá sản" mà chỉ có khái niệm "tài sản c̣n lại" theo Điều 39. Vấn đề xác định xem tài sản có bảo đảm được thanh toán trước hay sau thời điểm ra quyết định tuyên bố phá sản, tài sản c̣n lại (theo Điều 39) có gồm cả tài sản có bảo đảm hay không cũng chưa có sự thống nhất.

* Quan điểm thứ nhất cho rằng:

Theo Điều 39 Luật phá sản doanh nghiệp th́ "Tài sản c̣n lại" là tài sản của doanh nghiệp ở vào thời điểm doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản bao gồm toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hay quyền quản lư của doanh nghiệp (Doanh nghiệp Nhà nước), trong đó có tài sản mà doanh nghiệp mắc nợ đă đem đi bảo đảm cho các khoản nợ của ḿnh ở các chủ nợ. Nó bao gồm:

1) Tài sản cố định và tài sản lưu động của doanh nghiệp đang có ở doanh nghiệp

2) Tiền và tài sản góp vốn liên doanh, liên kết với cá nhân, doanh nghiệp hoặc tổ chức khác.

3) Tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp mà cá nhân, tổ chức doanh nghiệp khác đang nợ hoặc chiếm đoạt.

4) Tài sản mà doanh nghiệp đang cho thuê hoặc cho mượn.

5) Các quyền về tài sản.

Tài sản của doanh nghiệp tư nhân c̣n bao gồm cả tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh.

Theo quan điểm này, căn cứ vào Điều 15 của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 th́ trong quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản đă ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ. Và theo Điều 16,17 th́ Thẩm phán phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, nên không được cho thanh toán nợ có bảo đảm. Theo khoản 6 Điều 37 th́ chỉ trong quyết định tuyên bố phá sản mới nêu ra phương án phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp. Theo khoản 4 Điều 39 th́ việc phân chia tài sản c̣n lại theo danh sách chủ nợ mà danh sách chủ nợ th́ phải có cả tên chủ nợ có bảo đảm lẫn chủ nợ không có bảo đảm (Điều 22). Do đó, tài sản bảo đảm phải được thanh toán sau khi có quyết định tuyên bố phá sản và tài sản c̣n lại phải chứa cả tài sản có bảo đảm. Theo Điều 38 chủ nợ có bảo đảm phải được thanh toán trước chủ nợ không có bảo đảm. Nghĩa là, chủ nợ có bảo đảm phải được thanh toán sau chi phí phá sản, các khoản lương, trợ cấp cho người lao động và thuế. Điển h́nh là trong quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp tư nhân Hiệp Thành của Toà án kinh tế Toàn án nhân dân tỉnh Tây Ninh hay trong quyết định tuyên bố phá sản công ty tơ tằm xuất nhập khẩu Thanh Hóa của ṭa kinh tế ṭa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, chủ nợ có bảo đảm đă được xếp vào thứ tự ưu tiên thanh toán sau thuế và trước các chủ nợ không có bảo đảm.

* Quan điểm thứ hai cho rằng: Tài sản c̣n lại theo Điều 39 là tài sản của doanh nghiệp bị phá sản nhưng không bao gồm tài sản có bảo đảm và việc thanh toán nợ cho các chủ nợ có bảo đảm trước hay sau là tuỳ vào Thẩm phán giải quyết vụ việc. V́ họ cho rằng: Khoản 2 Điều 18 đă cho phép Thẩm phán giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản được toàn quyền quyết định điều đó. Việc ấn định thời điểm ngừng thanh toán nợ chẳng qua chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp mắc nợ nhằm hạn chế t́nh trạng tẩu tán tài sản. C̣n danh sách chủ nợ được thành lập trên cơ sở bảng kê tài sản. Việc định giá các tài sản trong bảng kê các tài sản chỉ mang tính tạm thời, tương đối để so sánh các khoản nợ phải trả, phải thu của doanh nghiệp đang bị giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản (v́ giá trị ban đầu của tài sản bảo đảm có thể thấp hơn hoặc cao hơn thực giá tại thời điểm mà nó bán ra). Do đó việc xác định ai nợ lại ai chỉ mang tính tương đối, chủ nợ có bảo đảm có thể trở thành chủ nợ có bảo đảm một phần và trong danh sách chủ nợ, chủ nợ đó tạm thời trở thành chủ nợ không có bảo đảm đối với phần nợ không được bảo đảm. Số nợ không có bảo đảm này được ghi là "tạm thời" và có chú thích rơ. Nghĩa là dù thanh toán cho các chủ nợ có bảo đảm trước tiên cũng không vi phạm các quy định ở Điều 15, ở Khoản 4 Điều 39 và Điều 22.

Hơn nữa, Điều 38 cũng quy định rằng: "Nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ của chủ nợ có bảo đảm, th́ chủ nợ đó được tham gia vào việc phân chia giá trị tài sản c̣n lại của doanh nghiệp như các chủ nợ không có bảo đảm khác. Nếu giá trị tài sản cầm cố đó lớn hơn số nợ, th́ phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản c̣n lại của doanh nghiệp phá sản". V́ vậy, họ đă đồng nhất giá trị tài sản c̣n lại trong Điều 38 giống như giá trị tài sản c̣n lại trong Điều 39.

Theo tôi, quan điểm thứ hai là hợp lư hơn cả và thực tế cũng được áp dụng nhiều hơn ở các ṭa án[1]. V́ ngoài những lư giải trên, khi vận dụng pháp luật, toà án cần phải xem xét đến tính thống nhất của cả hệ thống pháp luật, sự tồn tại của Luật phá sản trong mối liên hệ với các ngành luật khác.

Nguyên tắc cơ bản của chế định bảo đảm của luật dân sự là chủ nợ có bảo đảm phải được ưu tiên thanh toán trên giá trị của vật đem bảo đảm. Nghĩa là chủ nợ có bảo đảm hoặc là ưu tiên nhận vật đảm bảo theo thoả thuận hoặc là ưu tiên nhận được số tiền từ bán tài sản bảo đảm. Ngay trong Thông tư số 25 ngày 15 tháng 5 năm 1997 của Bộ Tài chính về hướng dẫn tŕnh tự, thủ tục, nguyên tắc xử lư tài chính khi giải thể doanh nghiệp Nhà nước cũng quyết định: "Chủ nợ có bảo đảm được nhận lại tài sản bảo đảm theo giá do tổ định giá xác định, nếu chủ nợ không nhận th́ tài sản đó được đem bán đấu giá theo quy định hiện hành số tiền thu được từ bán đấu giá tài sản bảo đảm được dùng để trả cho chủ nợ có bảo đảm. Số thừa thuộc tài sản của doanh nghiệp bị giải thể, số thiếu được coi là nợ không có bảo đảm và xử lư như các khoản nợ không có bảo đảm khác". Luật phá sản ra đời trên cơ sở đảm bảo quyền tự định đoạt của chủ nợ, khắc phục những hạn chế của biện pháp giải thể hành chính th́ không thể nói rằng nó không thừa nhận nguyên tắc trên.

Hơn nữa, nếu cho rằng trong tài sản c̣n lại có chứa tài sản bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm phải được thanh toán sau khoản thuế th́ thử hỏi nếu giá trị các tài sản không phải là tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ thuế th́ có bán tài sản bảo đảm để thanh toán không? Nếu có th́ vô h́nh chung tài sản đem đi bảo đảm khoản nợ ở các chủ nợ trở thành tài sản để đảm bảo các khoản nợ thuế. Điều này sẽ không hợp lư, sẽ phủ nhận toàn bộ chế định của giao dịch bảo đảm, sẽ không đảm bảo tính thống nhất trong đường lối giải quyết vụ việc, không khuyến khích được các quan hệ về vốn và không đảm bảo được tính hiệu quả của việc huy động lượng tiền nhàn rỗi vào trong sản xuất.

Chính v́ thế, tài sản c̣n lại ở Điều 39 không chứa tài sản bảo đảm. Việc bán tài sản bảo đảm để thanh toán nợ có bảo đảm trước hay sau khi tuyên bố phá sản chẳng qua là việc kéo dài thời gian để tạo điều kiện cho doanh nghiệp mắc nợ khôi phục hoạt động của ḿnh chứ không làm thay đổi tính chất của quan hệ. Do đó tài sản phá sản cũng chính là tài sản c̣n lại của doanh nghiệp theo Điều 39 của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993. Chúng tôi cho rằng để có thể hiểu và áp dụng một cách thống nhất th́ vấn đề này nhất thiết phải được quy định một cách rơ ràng trong Luật và mối quan hệ giữa chế định giao dịch có bảo đảm với chế định luật vỡ nợ phải được xem xét một cách toàn diện trong quá tŕnh sửa đổi Luật phá sản doanh nghiệp[2].

4. Vấn đề đ́nh chỉ và tạm đ́nh chỉ

Theo Điểm g, Khoản 1, Điều 39 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế th́ Toà án đang giải quyết vụ án kinh tế phải ra quyết định đ́nh chỉ vụ án khi có quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Trong khi đó, Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 không quy định trao thẩm quyền giải quyết vụ án kinh tế mà doanh nghiệp bị giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản là đương sự của vụ án cho Thẩm phán giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Như vậy, thật khó có thể xác định được ai nợ ai đối với tài sản đang tranh chấp để giải quyết theo thủ tục phá sản. Điều này đă gây khó khăn rất nhiều cho các Thẩm phán trong quá tŕnh giải quyết vụ việc.

Có trường hợp Thẩm phán giải quyết luôn vụ án kinh tế bị đ́nh chỉ trong thủ tục tuyên bố phá sản. Chẳng hạn, ngày 20 tháng 12 năm 2000 Chánh Toà - Toà kinh tế Toà án nhân dân tỉnh Ninh B́nh đă có quyết định số 02/QĐ-TA mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đối với Công ty xuất nhập khẩu Ninh B́nh là đương sự của vụ án kinh tế đang do Toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết (theo hồ sơ số 484/KTST thụ lư ngày 04 tháng 11 năm 1998 về tranh chấp hợp đồng). Ngày 21 tháng 03 năm 2001 Toà kinh tế Toà án nhân dân TP HCM có quyết định số 51/ĐC-KTST đ́nh chỉ vụ án kinh tế giữa kinh tế xuất nhập khẩu Ninh B́nh và Công ty TNHH Diên Hồng (thành phố Hồ Chí Minh) và Toà kinh tế toà án nhân dân tỉnh Ninh B́nh đă giải quyết luôn tranh chấp hợp đồng kinh tế nói trên. Việc giải quyết vụ án kinh tế chung với vụ tuyên bố phá sản c̣n tuỳ vào Thẩm phán, có Thẩm phán cho rằng khi đương sự có yêu cầu th́ giải quyết, nếu không có yêu cầu th́ thôi, v́ đây là quyền của thẩm phán, pháp luật không bắt buộc. Có Thẩm phán th́ quan điểm ngược lại.

Có trường hợp Thẩm phán chỉ giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp mà không giải quyết tranh chấp hợp đồng nêu trên. Chẳng hạn, Toà kinh tế Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ tuyên bố phá sản Công ty Tamexco (theo quyết định số 01 ngày 31 tháng 03 năm 1999) mà không giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa Nisho Iwai với Tamexco.

Theo chúng tôi việc Thẩm phán giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản giải quyết luôn các vụ án kinh tế bị đ́nh chỉ là thích hợp hơn. V́ có như vậy mới xác định được khoản nợ phải thu, khoản nợ phải trả để làm cơ sở cho việc phân chia tài sản phá sản. Tuy nhiên chúng ta cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để giải quyết những vướng mắc kéo theo, đó là:

Thứ nhất: Đương sự có quyền kháng cáo phán quyết của Toà án và kết quả giải quyết vụ án kinh tế như trên hay không? V́ việc giải quyết như trên không theo một tŕnh tự nào mà Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế quy định. Trong khi đó Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 cũng không hề quy định điều đó. Không thể nói rằng, luật phá sản cho phép chủ nợ (con nợ) khiếu nại đối với quyết định tuyên bố phá sản tức là luật cũng cho phép Toà phúc thẩm giải quyết luôn các tranh chấp tài sản do Thẩm phán cấp sơ thẩm giải quyết. Theo chúng tôi phán quyết về giải quyết tranh chấp kinh tế mà Thẩm phán giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản đem về giải quyết chung trong thủ tục giải quyết tuyên bố phá sản và quyết định tuyên bố phá sản mang hai tính chất khác nhau. Quyết định tuyên bố phá sản chỉ ghi nhận lại trạng thái phá sản và công nhận quan hệ nợ nần dựa trên những chứng cứ pháp lư mà phán quyết của Toà án là một trong những chứng cứ đó.

Thứ hai: Có những vụ án kinh tế phức tạp cần phải mất nhiều thời gian giải quyết. Trong khi đó Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 không quy định trường hợp này phải tạm đ́nh chỉ hay không, nếu thời gian cần thiết cho việc giải quyết vụ án có thể vượt quá thời gian để khoá sổ danh sách chủ nợ.

Chính v́ thế song song với việc cho phép Thẩm phán giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản giải quyết luôn vụ tranh chấp kinh tế, pháp luật cần phải điều chỉnh những vấn đề nói trên cho phù hợp.

5. Trường hợp phá sản xuyên quốc gia

Trong bối cảnh của nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, môi trường kinh doanh đang ngày càng được mở rộng một cách tối đa và không c̣n bó hẹp trong một phạm vi không gian nào đó. Như vậy, việc một chủ thể kinh doanh cùng đồng thời có mối quan hệ làm ăn trên lănh thổ của nhiều quốc gia tức là chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật đặt ra vấn đề là khi chủ thể  đó bị lâm vào t́nh trạng phá sản th́ giải quyết ra sao nếu các hệ thống pháp luật có sự xung đột.

Tại Điều 51 của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993 có qui định rằng những vụ kiện phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam liên quan đến cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài phải được thực hiện theo qui định của luật phá sản trừ trường hợp những điều ước quốc tế mà Việt Nam kư kết hoặc tham gia có qui định khác. Chúng tôi cho rằng trong điều kiện của nền kinh tế toàn cầu như hiện nay, khi mà các quốc gia đều đang cố gắng hài ḥa hóa pháp luật của ḿnh để đáp ứng yêu cầu hội nhập (đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh) th́ một quy định như thế rơ ràng là không hợp lư.

Chúng tôi kiến nghị rằng cần xem xét sửa đổi luật phá sản theo hướng có những qui định liên quan đến công nhận, đền bù và cộng tác trong trường hợp vỡ nợ xuyên quốc gia, tốt nhất là bằng cách chấp thuận Luật Mẫu về Vỡ nợ  xuyên Quốc gia của UNCITRAL[3].

Kết luận

Ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, Chế định luật “vỡ nợ” hay “phá sản” luôn là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống pháp luật về kinh doanh. Bởi lẽ, trong bối cảnh của môi trường cạnh tranh gắt gao th́ việc hiện tượng phá sản ngày càng trở nên phổ biến hơn là một điều dễ hiểu và dường như dưới một góc độ nào đó nó c̣n biểu thị cho mức độ tự do cạnh tranh và sự phát triển của nền kinh tế. Một chủ thể nào đó có thể bước vào thương trường với sự công nhận của luật pháp th́ họ cũng có thể ra đi khỏi thương trường một cách hợp pháp khi công việc kinh doanh thua lỗ mà không c̣n khả năng phục hồi. Việc ṭa án tuyên bố phá sản một chủ thể không c̣n đủ tư cách kinh doanh trong thương trường không chỉ có ư nghĩa là bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ và  sự an toàn cho bản thân con nợ mà c̣n nhằm dọn dẹp và làm sạch môi trường kinh doanh, bảo đảm sự ổn định của xă hội và kích thích đầu tư.

Việc Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam năm 1993 ra đời đánh dấu một mốc rất quan trọng cho những cố gắng của chúng ta trong việc xây dựng một khung pháp lư hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên do những hạn chế nhất định trong quá tŕnh ban hành mà Luật này không đạt được hiệu quả như mong muốn của các nhà lập pháp, sau hơn tám năm thực hiện, đă bộc lộ rất nhiều những khiếm khuyết, bất cập và ngày càng tỏ ra lạc hậu, không c̣n phù hợp với một môi trường kinh doanh mới. Thực tiễn pháp lư và thực tiễn kinh doanh đang đ̣i hỏi chúng ta phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện lại chế định pháp luật về phá sản, đảm bảo một thủ tục phá sản vừa hiện đại vừa phù hợp hơn để một chủ thể kinh doanh có thể “ra đi” khỏi thương trường cũng nhanh chóng như khi nó được “sinh ra” và đây cũng chính là một đ̣i hỏi của quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.


 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.        Báo cáo RETA 595, Cải tổ Luật vỡ nợ tại khu vực Châu Á - Thái b́nh dương.

2.        Cải tổ Chính sách và luật pháp tại ngân hàng phát triển Châu Á, quyển 1, 2000.

3.        Nghị định số 189/CP ngày 23.12.1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp

4.        Luật phá sản doanh nghiệp năm 1993

5.        Nguyễn Như Phát, Phạm Duy Nghĩa (Chủ biên), Giáo tŕnh Luật kinh tế Việt Nam, chương IX., NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001.

6.        Nguyễn Như Phát, Phạm Hữu Nghị (chủ biên), Giáo tŕnh Luật kinh tế, NXB Công an nhân dân, 2002

 

CORPORATE BANKRUPTCY LAW: SOME OPINIONS CONTRIBUTE FOR THE SUPPLIMENTATION AND AMENDMENT

Tran Anh Tu

Faculty of Law, Vietnam National University, Hanoi

 

Laws on “bankruptcy” and “insolvency” are very inportant in business law system of market-economy countries. Enterprise bankruptcy Law, which was enacted in 1993, can be considered as an attempt of Vietnam in its private law system innovation. How ever, because of lacking experience also approaching thought in the  procces of promulgating, up to now (after 8 years of implementation), the Law has exposed so many shortcomings which has caused some bad effects to trade activities. In the cope of the written paper, the author has tried to point out a number of impediments in the process of implementing  Enterprise bankruptcy Law 1993 and to bring out some small contributions with the hope that these contributions would be useful in building up a new law regulating this field in the near  future

 

[1] Trong quyết định tuyên b phá sn doanh nghip tư nhân Kim Thoi ca Toà án kinh tế Toà án nhân dân tnh Cn Thơ, quyết định tuyên b phá sn doanh nghip tư nhân Thương mi Tân ca Toà án kinh tế Toà án nhân dân tnh Đồng Nai, nhng v tuyên b phá sn liên quan đến tài sn bo đảm trong 12 v vic ca mt s năm qua do Toà kinh tế Toà án nhân dân Thành ph H Chí Minh ra quyết định tuyên b phá sn.

[2]Xem báo cáo v ci t lut giao dch có bo đảm ti Châu Á ca Ngân hàng ADB

[3] Mt trong nhng tiêu chun thc tin tt ca Ngân hàng phát trin Châu Á là chế định lut v n phi có điu khon liên quan đến vic công nhn, đền bù và hp tác trong các v kin v n xuyên quc gia, tt nht là bng cách chp thn Lut Mu v V n Xuyên quc gia ca UNCITRAL.