BÀN VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 

Lê Thị Hoài Thu

ThS., Giảng viên Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

 

nước ta, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xă hội chủ nghĩa, đă đạt được những thành tựu đáng mừng: kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, lạm phát được đẩy lùi và được kiểm soát tích cực. Nhưng t́nh trạng thất nghiệp đă trở thành một vấn đề xă hội bức xúc. Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm đến vấn đề này. Bên cạnh các biện pháp t́nh thế đối với lao động mất việc làm trong các doanh nghiệp Nhà nước, Nhà nước c̣n dành một khoản tiền lớn từ ngân sách để cho vay hỗ trợ việc làm với lăi suất ưu đăi, cùng với các nguồn vốn đầu tư phát triển sản xuất khác, hàng năm đă giải quyết được trên một triệu người có việc làm mới. Đồng thời Đảng và Nhà nước có chủ trương xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho phù hợp với nền kinh tế thị trường. Chủ chương đó được ghi trong Nghị quyết Trung ương 7 khoá VII của Đảng cộng sản Việt Nam. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và trong Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có nêu:
“Sớm xây dựng và thực hiện chính sách bảo hiểm đối với người lao động thất nghiệp”. Gần đây Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đă ghi rơ: “Khẩn trương bổ sung chính sách bảo hiểm xă hội, ban hành chính sách bảo hiểm thất nghiệp theo hướng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng đóng góp”. Chủ trương này của Đảng đă được kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa X thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật lao động, trong đó” Chính phủ qui định cụ thể điều kiện và mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, việc thành lập quản lư và sử dụng quỹ bảo hiểm thất nghiệp” (Điều 140).

         Do vậy, việc nghiên cứu, ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong giai đoạn hiện nay là cần thiết và phù hợp với các điều kiện phát triển kinh tế xă hội của đất nước cũng như quá tŕnh sửa đổi, bổ sung pháp luật lao động. Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ bảo hiểm xă hội mà hiện nay có 69 nước trên thế giới xem như là một bộ phận của chính sách bảo hiểm xă hội [1]. Trong đó, nhiều nước đă coi chế độ bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chế độ của chính sách bảo hiểm xă hội hàng trục năm nay, như Mỹ, Canada, Trung Quốc, Đức, Pháp...

         Bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của chính sách bảo hiểm xă hội, nhưng loại h́nh bảo hiểm này có một số đặc thù riêng, rất khó quản lư, trong đó nổi bật nhất là: [2]

         - Đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp không thể tính toán được, cũng không thể dự toán chính xác được như các loại bảo hiểm xă hội khác (v́ một người lao động có thể hôm nay  có việc làm, nhưng ngày mai bị thất nghiệp, do thay đổi cơ cấu sản xuất, thay đổi công nghệ).

         - Lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, việc quản lư quyền lợi của người tham gia bảo hiểm thất nghiệp rất khó khăn, v́ thực tế ở các nước đă có nhiều người lao động t́m được việc làm, có thu nhập, nhưng vẫn nhận được trợ cấp thất nghiệp. Đặc biệt ở các nước có thành phần phi kết cấu lớn th́ việc quản lư này c̣n phức tạp hơn nhiều.

         - Bảo hiểm thất nghiệp có liên quan chặt chẽ với cơ quan xúc tiến việc làm trong lúc cơ quan này lại hoạt động chưa thực sự hiệu quả.

         Để góp phần nghiên cứu chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam chúng tôi có một số ư kiến sau:

1. Về đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp

         Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ khó quản lư nhất trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xă hội v́ nhiều người vẫn có thể nhận trợ cấp thất nghiệp trong khi vẫn có thu nhập từ một công việc không được đăng kư hoặc một công việc nào đó trong khu vực phi chính thống. Bên cạnh đó, việc trốn tránh đóng góp bảo hiểm xă hội thường xảy ra, v́ vậy trước hết phải qui định bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ bảo hiểm bắt buộc. Như vậy, có thể áp dụng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo đối tượng tham gia bảo hiểm xă hội được qui định tại Điều 141 của Bộ luật Lao động đă được sửa đổi, bổ sung. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ là người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

 2. Mức hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

         Công ước quốc tế về bảo hiểm xă hội của ILO (tiêu chuẩn tối thiểu) số 102 năm 1952 yêu cầu mức hưởng trợ cấp thất nghiệp (bao gồm các khoản chi trả trợ cấp gia đ́nh) không thấp hơn 45% mức thu nhập trước đó (cũng bao gồm các khoản chi trả trợ cấp gia đ́nh) đối với một người thụ hưởng chuẩn (một chồng với một vợ và hai con). Công ước này qui định thêm rằng giới hạn chuẩn của mức thu nhập tối đa để làm căn cứ đóng bảo hiểm phải được ấn định cao đến mức sao cho có thể đảm bảo rằng mức tối thiểu 45% sẽ được áp dụng đối với tất cả người lao động. Công ước của ILO về thúc đẩy việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp số 168 năm 1988 c̣n đ̣i hỏi cao hơn một chút, tỷ lệ nói trên được thay bằng tỷ lệ 50% mức thu nhập trước đó.

         Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp thường được giới hạn bằng một tỷ lệ % tiền lương b́nh quân, sao cho tỷ lệ đáp ứng được mức độ sinh hoạt tối thiểu. Tỷ lệ này cũng cần được ấn định sao cho mức trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp tối thiểu tương đương với mức tiền lương tối thiểu do Nhà nước qui định. Kinh nghiệm thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở một số nước cho thấy: ở Hàn Quốc mức hưởng bảo hiểm thất nghiệp là 50% thu nhập của người lao động ở tháng trước khi họ bị mất việc làm. Mức hưởng tối thiểu là 70%  mức tiền lương tối thiểu [3] ở Mông Cổ mức hưởng trợ cấp ở mức tối thiểu bằng 75% mức tiền lương tối thiểu, được chi trả tối đa 76 ngày, tính từ ngày hết hợp đồng lao động theo qui định của Bộ luật Lao động [4]. Ở Trung Quốc mức hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp theo một nguyên tắc chung là thấp hơn mức tiền lương tối thiểu nhưng phải cao hơn mức sống tối thiểu của cư dân thành thị. Hoặc tham khảo “Chế độ trợ cấp thất nghiệp ở các nước trong quá tŕnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường” [5] như: Bungari mức hưởng là 60% tiền lương trước khi thất nghiệp và 80% lương tối thiểu nếu tự bỏ việc; Hungari là 75% tiền lương trước khi bị thất nghiệp trong ṿng 23-90 ngày, sau đó chỉ được 60%; Ba Lan là 260 zloty (80% số này nếu làm việc dưới 5 năm và 120% nếu làm việc hơn 20 năm); Nga mức hưởng là 75% tiền lương trước khi thất nghiệp sau đó giảm dần.

         Như vậy, có 4 cách hay được các nước áp dụng là:

- Ấn định mức trả đồng đều cho tất cả mọi người thất nghiệp có chung điều kiện (thường bằng tỷ lệ % so với mức lương tối thiểu)

- Xác định bằng một tỷ lệ theo lương cá nhân. Đa số các nước xác định tỷ lệ hưởng bằng 40 - 60% tiền lương.

Xác định theo tỷ lệ luỹ thoái: những tháng đầu được hưởng tỷ lệ cao, những tháng sau tỷ lệ thấp hơn.

- Xác định theo luỹ tiến điều hoà: những người thuộc nhóm lương thấp th́ được hưởng tỷ lệ cao và những người ở nhóm lương cao được hưởng tỷ lệ thấp.

         Xét thực tiễn tiền lương của Việt Nam và tham khảo các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng như thực tế ở một số nước, theo chúng tôi người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng bằng 65% mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi bị thất nghiệp là hợp lư.

 3. Điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

         Theo kinh nghiệm của nhiều nước trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp dưới mọi h́nh thức chỉ áp dụng đối với người:

- Bị bắt buộc thôi việc;

- Có đăng kư thất nghiệp với cơ quan có thẩm quyền (có thể là trung tâm dịch vụ việc làm);

         - Có khả năng làm việc;

         - Sẵn sàng làm việc và tích cực t́m kiếm việc làm.

         Điều kiện đủ để hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp c̣n phụ thuộc vào một khoảng thời gian làm việc nhất định có đóng góp bảo hiểm. Công ước ILO số 102 không đưa ra bất kỳ một chỉ số đặc biệt nào liên quan đến độ dài thời gian đủ điều kiện để hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp mà chỉ khuyến cáo rằng khoảng thời gian này phải được xem xét để ngăn chặn sự lạm dụng chế độ bảo hiểm thất nghiệp.          

         Thời gian đủ điều kiện để hưởng trợ cấp ở các nước là hoàn toàn khác nhau. Ví dụ ở  Anh những người đă đóng góp đầy đủ các khoản thuế trợ cấp bảo hiểm Quốc gia (NI) có quyền nhận trợ cấp cho những người t́m việc làm cho tới 6 tháng (50,35 bảng/tuần cho một người từ 25 tuổi trở lên) bất kể người đó có tiền tiết kiệm hay thu nhập của vợ hoặc chồng [6]. Ở Thuỵ Điển những yêu cầu để được hưởng trợ cấp từ bảo hiểm thất nghiệp: Thứ nhất, phải là thành viên của một quỹ bảo hiểm thất nghiệp ít nhất một năm đối với người đi làm và hai năm đối với người lao động cá thể; Thứ hai, phải làm việc 5 tháng trong ṿng 12 tháng qua [7] hay ở Trung Quốc để nhận trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp cần có 3 điều kiện sau: Đă đóng phí bảo hiểm thất nghiệp đủ trọn 1 năm; sự huỷ bỏ công việc đang làm không phải là do tự bản thân đă đăng kư thất nghiệp và có đơn xin tái làm việc đă được điền đầy đủ [8].

      Do đó cần phải có một khoảng thời gian đóng góp  bảo hiểm thất nghiệp để đủ điều kiện hưởng trợ cấp, thời gian càng dài th́ chi phí của chương tŕnh sẽ càng thấp. Về mặt tài chính, thời gian đủ điều kiện để hưởng trợ cấp đóng một vai tṛ quan trọng đối với thời kỳ đầu của chương tŕnh, khi có rất nhiều chi phí phải cần cho những hoạt động liên quan đến sự h́nh thành hệ thống quản lư và để tích luỹ cho một quỹ dự pḥng sự cố sau này. Thời gian càng dài trong khi chỉ có thu và không phải chi trả trợ cấp sẽ tạo thuận lợi hơn trong việc trang trải những chi phí ban đầu. V́ vậy, trợ cấp thất nghiệp chỉ được chi trả cho người có đóng góp bảo hiểm không ít hơn 12 tháng trước khi bị thất nghiệp. Theo chúng tôi, ở Việt Nam điều kiện để người lao động hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp cần phải có đủ các điều kiện sau đây:

         - Đă chấm dứt hợp đồng lao động mà chưa t́m được việc làm mới trong một khoảng thời gian nhất định

         - Đăng kư thất nghiệp với cơ quan lao động có thẩm quyền và có đơn đề nghị hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp

         - Có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc hoặc tham gia các khoá đào tạo theo sự giới thiệu của cơ quan lao động có thẩm quyền

         - Đă đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ 12 tháng trở lên trước khi bị thất nghiệp.

         Ngoài ra, cũng cần phải qui định thêm những trường hợp người lao động có đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng không được hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp như: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, bị sa thải theo qui định của pháp luật hay bị phạt tù giam...

4. Thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp

         Điều 24 Công ước ILO số 102 quy định rằng việc chi trả trợ cấp thất nghiệp có thể hạn chế trong ṿng 13 tuần trong phạm vi một năm. C̣n theo Công ước ILO số 168 th́ khoảng thời gian này là 26 tuần.

         Thông thường ở các nước thời hạn hưởng khoảng từ 12-25 tuần lễ như: Đức 13 tuần, Áo 12 tuần, Canađa 36 tuần, Italia 180 ngày. Tuy nhiên cũng có một số nước qui định thời gian để hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp rất chặt chẽ. Chẳng hạn như: Trung Quốc qui định: trợ cấp thất nghiệp sẽ được hưởng trong ṿng 12 tháng nếu người bị thất nghiệp đă đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian từ 1 đến 5 năm; những người đóng bảo hiểm thất nghiệp từ 5 đến 10 năm th́ hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa là 18 tháng. Những người đóng bảo hiểm thất nghiệp trên 10 năm th́ sẽ được nhận tối đa là 24 tháng. Khi người lao động lại bị thất nghiệp sau khi đă t́m được việc làm th́ thời gian đóng góp cho quỹ sẽ được tính toán lại trên cơ sở xem xét khoảng thời gian họ đă nhận bảo hiểm thất nghiệp trước đây, tuy nhiên mức tối đa cũng không được vượt quá 24 tháng [9]. Hàn Quốc: thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian đóng góp bảo hiểm và độ tuổi của người hưởng. Người dưới 30 tuổi được hưởng từ 3 đến 6 tháng tuỳ theo số năm đóng bảo hiểm thất nghiệp; người từ 30-50 tuổi được hưởng tương ứng từ 4 đến 7 tháng và người trên 60 tuổi được hưởng từ 5 đến 8 tháng [10]. Luật bảo hiểm của Philipin qui định: thời hạn hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian đă đóng bảo hiểm thấp nhất là 2 tháng và cao nhất là 6 tháng. Tuy nhiên người thất nghiệp chỉ được trả trợ cấp từ ngày thất nghiệp thứ 7 trở đi. Ngoài trợ cấp hàng tháng người thất nghiệp c̣n được hưởng trợ cấp một lần ban đầu tương đương với hai tháng trợ cấp [11].

         Như vậy, ở các nước, thời hạn hưởng bảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian đóng, tỷ lệ hưởng, khả năng thanh toán của quĩ và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xă hội, nhất là khả năng tiếp nhận của thị trường lao động.

         Ở Việt Nam những người thất nghiệp đa phần là có mức lương thấp và mục đích của bảo hiểm thất nghiệp là bảo vệ, theo chúng tôi nên tính trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp theo mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi bị thất nghiệp. Hơn nữa ở nước ta do thị trường lao động chưa phát triển nên thực tế người thất nghiệp không nhiều, nên ít nhiều vẫn có thể t́m được việc làm ở khu vực phi kết cấu, v́ vậy chỉ nên qui định thời hạn hưởng tối đa là 12 tháng để tránh sự lạm dụng và sự quá tải về tài chính của quỹ trong thời gian đầu thành lập. Đồng thời, khi xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp cũng cần phải qui định rơ các trường hợp chấm dứt hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp như: hết thời hạn hưởng chế độ bảo hiểm thất nghiệp, bị phạt tù, chết, từ chối công việc mà cơ quan lao động có thẩm quyền giới thiệu... Tuy nhiên thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp có thể chia thành 2 mức: 6 tháng và 12 tháng tuỳ theo thời gian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động. Nếu qui định quá nhiều mức, thoạt nh́n có cảm giác hợp lư và công bằng, nhưng trên thực tế sẽ rất khó khăn cho công tác quản lư tài chính và kế toán, gây tốn kém cho chi phí quản lư. Mặt khác sẽ trở nên vô cùng phức tạp khi thị trường lao động trở nên linh hoạt hơn và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, trong khi lưu trữ hồ sơ chưa  được vi tính hoá để tạo điều kiện cho việc thẩm tra hồ sơ đóng góp bảo hiểm một cách nhanh chóng và chính xác.

5. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

         Việc h́nh thành quĩ bảo hiểm thất nghiệp của các quốc gia tuy hoàn toàn không giống nhau, đều tập trung vào hai hoặc ba đối tượng: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Kinh nghiệm của 69 nước thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho thấy hầu như các quốc gia đều có sự hỗ trợ hoặc đóng góp trực tiếp cho việc h́nh thành từ sự đóng góp của ba bên là hợp lư, nhất là giai đoạn đầu của bảo hiểm thất nghiệp. Việt Nam Theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước th́ chính sách bảo hiểm thất nghiệp cần khẩn trương được ban hành theo hướng Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động cùng đóng góp.

         Theo chúng tôi, mức đóng bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta nên dựa trên các điều kiện và mức hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp. Ngoài ra cũng cần cân nhắc đến mức độ thất nghiệp hiện nay và áp lực tài chính tương đối cao đối với người sử dụng lao động trong việc đóng góp bảo hiểm xă hội theo qui định hiện hành.

         Theo hệ thống bảo hiểm xă hội hiện hành, tổng mức đóng góp là 20% tiền lương (15% đối với người sử dụng lao động và 5% đối với người lao động). Tổng số thu từ đóng góp được phân bố tương ứng: 15% cho các chế độ dài hạn (hưu trí, tuất) và 5% cho các chế độ ngắn hạn (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp). Do bản chất ngắn hạn của trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp, nên mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp sẽ được xác định theo phương pháp tài chính chi đến đâu thu đến đó (PAYG) sao cho tạo dựng được một nguồn quỹ dự pḥng đủ để chi trả các chi phí liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp trong 1 năm. Do vậy, theo chúng tôi quỹ bảo hiểm thất nghiệp được h́nh thành từ các nguồn đóng góp hàng tháng như sau:

         - Người lao động đóng bằng 1% tiền lương tháng

         - Người sử dụng lao động đóng bằng 1% tổng quỹ tiền lương tháng của người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong đơn vị.

         - Ngân sách Nhà nước cấp bằng 1% tổng quỹ tiền lương tháng của người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong cả nước.

         - Các nguồn thu khác

 6. Về quản lư bảo hiểm thất nghiệp

         Bảo hiểm thất nghiệp là một chế độ mới, ta chưa có kinh nghiệm trong việc xây dựng cũng như tổ chức thực hiện. Cái khó của chế độ này là dự báo “đầu ra” về số lượng người thất nghiệp. Nếu không tính toán kỹ đến việc thu, chi, quản lư th́ sẽ dẫn đến mất cân đối quỹ. Do đó cần tiến hành làm thử ở một số thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung sau đó tổng kết, rút kinh nghiệm, bổ sung, sửa đổi và qui định thành pháp luật riêng về bảo hiểm thất nghiệp.

         Ở nước ta, theo chúng tôi vấn đề bảo hiểm thất nghiệp dù ban hành một đạo luật riêng hay để trong luật bảo hiểm xă hội th́ bảo hiểm thất nghiệp cũng phải có ba nội dung chính:

         - Nguồn tài chính và chế độ thu chi bảo hiểm thất nghiệp.

         - Các hoạt động đưa người thất nghiệp trở lại thị trường lao động.

         - Các hoạt động ngăn ngừa, hạn chế t́nh trạng thất nghiệp.

         Để thực hiện được  3 nội dung trên th́ bảo hiểm thất nghiệp phải có bộ máy độc lập, đủ mạnh từ Trung ương tới  địa phương để thực thi có như vậy bảo hiểm thất nghiệp hay Luật Bảo hiểm thất nghiệp mới đạt được hiệu quả thiết thực.

         Theo chúng tôi, nước ta nên xây dựng Luật Việc làm và thất nghiệp hay Luật Bảo hiểm Việc làm (về tên gọi không quan trọng, căn bản phải chứa đựng được ba nội dung đă nêu trên). Mục đích của luật này là qui định nhiệm vụ của Nhà nước, của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm, chống thất nghiệp và khắc phục hậu quả của nó. Việc xây dựng Luật Việc làm và thất nghiệp là một đ̣i hỏi khách quan và có khả năng thực hiện được v́: Nền kinh tế của ta trên đà phát triển, lạm phát được kiềm chế; Thị trường lao động đang h́nh thành và phát triển nhanh chóng; Luật pháp lao động, tuy chưa hoàn thiện nhưng đă kịp thời đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường; Cuối cùng ta có thuận lợi cơ bản, mà ít nước có là: Trước khi có Bảo hiểm thất nghiệp, đă có Quỹ và Chương tŕnh việc làm quốc gia; có hệ thống các Trung tâm dịch vụ việc làm trong cả nước. Theo kinh nghiệm của các nước th́ đây là một trong 2 điều kiện để áp dụng bảo hiểm thất nghiệp của mỗi quốc gia: một là thị trường việc làm được tổ chức một cách thích hợp, hai là hệ thống dịch vụ việc làm. Đây là điều kiện vật chất và là chỗ dựa cơ bản để xây dựng và thực thi Luật Việc làm và Thất nghiệp.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.          Social security programs throughout the world, 1999.

2.          Đặng Anh Duệ, Xây dựng và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, Thông tin khoa học Lao động và Xă hội, 4/2002.

3.          Nguồn: Khủng hoảng kinh tế hỗ trợ thu nhập và những chương tŕnh đào tạo việc làm, kinh nghiệm của Triều Tiên, Viện lao động Triều Tiên, 5/2001.

4.          Báo cáo của Tổ chức lao động quốc tế và ngân hàng châu Á, 2001.

5.          Doăn Mậu Diệp, Chế độ trợ cấp thất nghiệp ở các nước trong quá tŕnh chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Thông tin Khoa học Lao động và Xă hội, số 2/2002.

6.          Đặng Minh Đức, Vài nét về chính sách bảo hiểm xă hội ở Anh, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, số 3/2000.

7.          Hoàng Xuân Hà, Bảo hiểm xă hội ở Thuỵ Điển, Tạp chí nghiên cứu Châu Âu, số 4/2001.

8.          Chính sách của nước CHND Trung Hoa về Bảo hiểm Xă hội, 10/2000.

9.          Anh Linh, Bảo hiểm thất nghiệp của một số nước, Tạp chí Lao động và Xă hội, 2003.

 

REFLECTION ON JOBLESS INSURANCE IN VIETNAM

Le Thi Hoai Thu, LLM

Faculty of Law, Vietnam National University, Hanoi

Jobless insurance is very necessary system under the present circumstance in Vietnam. Learning foreign experiences on this issue, the author focus on its objects, pension, terms, common pool, and administration. Finally, the author results in three factors of the jobless insurance: Financial source, and collection and pension system; job creation; and prevention and restriction of jobless.