Nâng cao chất lượng các dịch vụ Thông tin – thư viện In Email

Nâng cao chất lượng các dịch vụ Thông tin – thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cán bộ, giảng viên và sinh viên các trường đại học.

Phần I: Thực trạng phát triển dịch vụ thông tin – TV tại các TV đại học ở nước ta hiện nay

1. Khái quát tình hình chung

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT) đã tác động mạnh mẽ đến ngành thông tin – thư viện (TT-TV). Xu hướng phát triển của các cộng đồng TV trên thế giới hiện nay là tiến đến số hóa và kết nối để thu hẹp diện tích và khoảng cách địa lý. Trong khi đó, ngành TT-TV Việt Nam đang bước những bước đầu tiên trên con đường hiện đại hóa.  Có thể nhận định rằng nguồn lực của ngành TT-TV Việt Nam hiện còn thấp so với nhu cầu trong nước. Cả nước có 95 TV đại học[i] chưa kể các TV riêng của mỗi trường, trong khi đó, số sinh viên năm học 2006-2007 là 1.173.147. Tính trung bình mỗi TV phục vụ trên 12.000 sinh viên. Như vậy, các TV trường đại học và cao đẳng hoàn toàn không thể đáp ứng nhu cầu của sinh viên cả nước cho dù có trừ đi 50% số sinh viên ít sử dụng các phòng học ở TV. 

Hầu hết TV vẫn khó thoát khỏi vỏ bọc truyền thống lâu đời do chậm đổi mới. Vì vậy, dịch vụ TT-TV (xem Sơ đồ phác thảo một số yếu tố tác động đến dịch vụ TT-TV) còn rất nghèo nàn:
  • Mô hình dịch vụ thông tin tài liệu còn đơn điệu, chủ yếu cung cấp các dịch vụ phổ biến như mượn và gia hạn tài liệu, đọc tại chỗ, tra cứu, sao chụp tài liệu.
  • Dịch vụ hỏi đáp, tham khảo còn ở mức đơn giản: sinh viên chủ động, nhân viên TV bị động.

 

 

  • Số lượng và loại hình tài liệu còn chưa phong phú, rải rác và chưa đồng bộ về chuẩn biên mục.
  • Phần mềm TV tự tạo, hoặc có mua phần mềm thương mại thì chưa đồng bộ.
  • Cơ sở hạ tầng CNTT còn lạc hậu. Tốc độ tiếp cận công nghệ mới còn chậm.
  • Nhân viên TV chưa được đào tạo đúng mức về chuyên ngành TT-TV nói chung và phong cách phục vụ bạn đọc nói riêng.
  • Công tác quảng bá các dịch vụ TV ít được chú trọng.

 

 

 

Trong bối cảnh đó, sự phát triển nhanh chóng của CNTT-TT đã đặt ra cho ngành TT-TV không ít những thách thức:  
  • Bùng nổ nội dung và gia tăng nội dung số: một xu thế phát triển mới của thế giới được các nhà nghiên cứu dự báo trong năm 2005-2015 là chuyển từ phát triển định hướng mạng (Network centric) sang phát triển nội dung (Content centric). Theo dự báo trong vòng 15 năm tới, cứ sau 3 năm lượng thông tin do nhân loại tạo ra sẽ tăng gấp đôi. Nội dung số cũng tăng tỷ lệ thuận với sự xu thế phát triển nội dung. Trước tình hình đó, ngành TT-TV cần trang bị nhiều mặt như công nghệ, tài chính, kỹ năng để có thể theo kịp bước tiến được tiên đoán này.
  • Sự ra đời của Web 2.0 và “phương tiện truyền thông công dân” như YouTube, Facebook, MySpace, bách khoa toàn thư mở: đã có không ít những lo ngại rằng xu hướng truyền tin và sử dụng thông tin chưa được thẩm định này sẽ làm tác động tiêu cực đến nền văn hóa và sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhân viên TV lúc này cần phát huy vai trò của mình là người hoa tiêu hướng dẫn cho người dùng đến nguồn tin đáng tin cậy.
  • Số lượng kết nối: theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam đã có hơn 18 triệu người sử dụng internet thường xuyên sau 10 năm hội nhập của mạng Internet Việt Nam, chiếm 21,6% dân số, vượt mức trung bình của thế giới và châu Á. Điều này có nghĩa sự am hiểu về internet cũng như nhu cầu khai thác thông tin của người dùng tăng cao. Trước bối cảnh đó, TV cần phải nâng cao chất lượng TT-TV để cùng nhập cuộc.
  • Tốc độ kết nối: đường truyền băng thông rộng, WiMax, Mạng thế hệ sau (Next Generation Networking) là những công nghệ mới được đưa vào phục vụ khi ngày càng có nhiều người dùng tải những thông tin điện tử có dung lượng lớn. Đặc biệt khi nội dung số càng phát triển, ngành TT-TV cần đáp ứng kịp thời nhu cầu tải thông tin của người dùng.
  • Tính di động: người dùng tin muốn tiếp cận thông tin “mọi lúc, mọi nơi”, vì thế, ngành TT-TV cũng không thể “đứng yên” trong việc cung cấp dịch vụ TT-TV.

Phần II: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ TT-

 

Để nâng cao chất lượng dịch vụ TT-TV, chúng tôi đề xuất 7 giải pháp thực thi được thể hiện qua Mô hình mối quan hệ các giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ TT-TV bên dưới.

 

 
Mo hinh

1.    Giải pháp 1: Phát triển và đa dạng hóa nguồn tài nguyên 

Nguồn tài nguyên là phần quan trọng cốt lõi của TV. Một chiến lược phát triển nguồn tài nguyên đúng hướng và phù hợp có vai trò quyết định chất lượng dịch vụ TT-TV. Để thực hiện giải pháp này cần tiến hành những hành động cụ thể sau:
  • Hình thành chính sách phát triển bộ sưu tập. Chính sách phát triển bộ sưu tập đóng vai trò tiên quyết trong việc xây dựng nguồn tài liệu và hiệu quả sử dụng tài liệu của TV.
  • Phát triển có chọn lọc nhiều loại hình tài liệu mới nhằm đa dạng hóa nguồn tài liệu
  • Thăm dò ý kiến giảng viên, sinh viên nhằm bổ sung tài liệu phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học.
  • Phân bổ hợp lý nguồn ngân sách
  • Chia sẻ nguồn tài nguyên giữa các TV (giải pháp 2)
  • Đánh giá tính hiệu quả của nguồn tài liệu sau một thời gian sử dụng.

 

 2.      Giải pháp 2: Chia sẻ nguồn thông tin:

Hầu hết các TV đều biết được tầm quan trọng của việc chia sẻ thông tin, nhưng còn rất nhiều khó khăn để thực hiện được giải pháp này: 

  • Khác biệt về công nghệ
  • Chênh lệch công nghệ
  • Chi phí cho công nghệ
  • Thiếu tính liên kết giữa các đơn vị
  • Chênh lệch trình độ
Những khó khăn nêu trên gợi mở cho các đơn vị thấy được những giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề. Một khi đã tháo gỡ được những rào cản nói trên, việc chia sẻ thông tin càng được thúc đẩy, dẫn đến chất lượng dịch TT-TV càng được nâng cao.  

3.      Giải pháp 3: Trang bị hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) bền vững 

CNTT là một trọng những nhân tố cần thiết thúc đẩy dịch vụ TT-TV phát triển. Thực hiện được giải pháp này cần lưu ý một số yếu tố làm nền tảng cho sự phát triển “bền vững”, cụ thể như:

  • Tính ổn định và thích nghi của cơ sở hạ tầng CNTT
  • Bảo trì tốt thiết bị CNTT
  • Tiếp cận công nghệ mới
  • Nguồn tài chính vững chắc
  • Tập huấn cho nhân viên về các ứng dụng của CNTT.

4. Giải pháp 4: Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ thông tin:

Nếu nguồn tài nguyên là món ăn tinh thần thì dịch vụ TT-TV chính là cách thức phục vụ món ăn ấy đến bạn đọc. Muốn đa dạng hóa các dịch vụ TT-TV, TV cần lưu ý các yếu tố sau:

  • Thực hiện được Giải pháp 1 và 2 sẽ có thêm các dịch vụ TT-TV mới: đa dạng hóa nguồn tin và chia sẻ nguồn tin.
  • Sáng tạo các loại hình dịch vụ mới
  • Chuyên môn nghiệp vụ tốt
  • Hỗ trợ của CNTT (giải pháp 3).  

5. Giải pháp 5: Đẩy mạnh quảng bá các dịch vụ TT-TV

Quảng bá dịch vụ TT-TV là để giúp bạn đọc hiểu rõ thêm về dịch vụ TT-TV và cách tiếp cận các dịch vụ đó. TV cần chú trọng đến các yếu tố sau trong việc quảng bá dịch vụ:

  • Quan hệ công chúng hơn là quảng cáo thuần túy: TV cần tổ chức các hoạt động như câu lạc bộ bạn đọc, triễn lãm các sản phẩm thông tin lạ mắt do bạn đọc đóng góp, hoặc tổ chức trưng bày/giới thiệu sách theo một chủ đề/nhân vật.
  • Tính trung thực
  • Đẩy mạnh công tác liên lạc đến với bạn đọc hoặc nhóm bạn đọc.

 

 6.      Giải pháp 6: Đào tạo nhân lực
Sơ đồ minh họa các hoạt động phát triển chuyên môn liên tục

Giải pháp về phát triển nhân lực luôn là vấn đề trọng tâm của mọi tổ chức. Đào tạo nguồn nhân lực đều có liên quan đến các vấn đề nêu ra ở giải pháp 1 đến giải pháp 5. Một số điểm cần chú trọng khi thực hiện giải pháp này như sau:

  • Đề ra chiến lược phát triển chuyên môn liên tục phù hợp và bảo đảm luôn được thực hiện (xem Sơ đồ minh họa các hoạt động phát triển chuyên môn liên tục).
  • Chọn phương pháp đào tạo phù hợp: tự đào tạo (in-house training), đào tạo tại chức (in-service training), đào tạo trực tuyến (e-learning).
  • Tìm kiếm các cơ hội đào tạo như học bổng và cử nhân viên đi đào tạo.
  • Tạo điều kiện cho những nhân viên muốn học thêm để nâng cao trình độ
  • Khuyến khích tinh thần tự học của nhân viên.
  • Tạo động lực và sự hứng cho nhân viên trong công việc cũng như trong đào tạo.

7.      Giải pháp 7: Năng lực quản lý và tài chính

Năng lực quản lý và tài chính là giải pháp có mối liên hệ và tác động lớn đến tất cả các giải pháp đã trình bày ở trên. Cho dù mục tiêu đề ra rõ ràng, giải pháp thực thi để đạt được các mục tiêu đó là đúng nhưng năng lực quản lý và tài chính kém thì khó có thể đi đến đích cuối cùng.

Phần IV. Kết Luận:

Xã hội thông tin càng phát triển càng đặt ra nhiều thách thức không nhỏ cho ngành TT-TV. Sứ mệnh của ngành quả thật lớn lao khi xã hội xem các TV là nơi quản lý tri thức. Hơn bao giờ hết, các TV, trung tâm thông tin cần tự đổi mới chính mình, nâng cao chất lượng dịch vụ TT-TV để bắt kịp thời đại. Báo cáo trên đây đã đề xuất một số giải pháp nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ TT-TV hiện nay ở các TV, trung tâm thông tin. Bài viết đã đi đến phần kết nhưng vẫn còn câu hỏi lớn chưa được giải đáp. Nguồn kinh phí để thực thi các giải pháp đó đến từ đâu? Ai sẽ chi để thực hiện? Nếu lấy nguồn thu từ dịch vụ thì rõ ràng không đủ để trang trải. Khả năng tài chính của trường đại học cũng không đủ để đầu tư và không thể chỉ đầu tư vào TV. Nếu những phương án đề ra trên đây chưa thực hiện được thì công tác TT-TV của chúng ta vẫn trong vòng luẩn quẩn của “tìm giải pháp” rồi lại “bỏ ngỏ”. Chúng tôi vẫn đang chờ câu trả lời từ các đơn vị đầu ngành.

 

Tài liệu tham Khảo:

1. Nguyen, Thanh Minh. 2006. Thư viện và vấn đề đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam. Hội nghị quốc tế về thư viện. TP. Hồ Chí Minh.

 2. Cao, Minh Kiểm. 2008. Một số suy nghĩ về tổ chức và hoạt động thông tin, thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới. Thông tin Tư liệu (1).3. Keen, Andrew. Keen, A. (2006). YouTube: Broadcast yourself. Truy cập ngày 30/08/2008, từ http://andrewkeen.typepad.com/the_great_seduction/digital_narcissism/index.html.

4. Bộ Thông tin và Truyền thông. 2008. 10 sự kiện nổi bật trọng lĩnh vực thông tin và truyền thông năm 2007. Công nghệ thông tin và Truyền thông (1):5-7.

 

 -------------------------------------------------------------

Huỳnh Đình Chiến – Huỳnh Thị Xuân Phương

Trung tâm Học liệu Đại học Huế